Nghiên cứu lâm sàng và phẫu thuật bệnh hẹp ống sống thắt lưng. Tác giả: Ngô Nguyên Quang. Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược. TP Hồ Chí Minh, ngày 30-3-2004. Tác giả khảo sát 34 bệnh nhân bị hẹp ống sống thắt lưng: các dấu hiệu lâm sàng, công hưởng từ, và kết quả phẫu thuật giải áp. Tác giả nhận thấy bệnh thường xuất hiện ở người cao tổi (trung bình 64,7 tuổi), không ưu thế giới tính. Triệu chứng d89au cách hồi thần kinh ở 64,7%, đau theo rễ không rõ (32,4%), Lasegue dương tính chỉ ở 20,6%. Công hưởng từ là xét nghiệm ưu việt và thay thế cho chụp bao rễ. Thường thấy hẹp 2 tầng (50%), chủ yếu là tầng L4-L5 (79,4%). Nguyên nhân chủ yếu là thoát vị đĩa đệm (64,4%), dầy dây chằng vàng (38,5%), phì đại khối khớp sau (29,4%). Phẫu thuật cắt bản sống giải áp vẫn là phương pháp an toàn và hữu hiệu, với kết quả tốt và khá là 85,3%.
Khảo sát lâm sàng và cộng hưởng từ trong thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Tác giả: Nguyễn Tiến Cường. Bảo vệ tại Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày 30-3-2004. tác giả khảo sát các dấu hiệu lâm sàng và hình ảnh MRI trên 56 bệnh nhân được phẫu thuật do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Từ đó tác giả nhận xét về các dấu hiệu lâm sàng và vai trò của MRI trong loại bệnh lý cần phẫu thuật này.
Nghiên cứu lâm sàng, hình ảnh học chấn thương cột sống cổ. Tác giả: BS Hà Thị Thanh Tuyền. Bảo vệ tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày 30-12-2003. Tác giả nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học trên 230 bệnh nhân chấn thương cột sống cổ, thấy các vùng dễ bị thương tổn nhất là C2 (16,67%) và C5 (34,31%), C6 (24,05%). 60,8% bệnh nhân có tổn thương xương và dây chằng, 87% liệt tứ chi. CT scan là xét nghiệm tốt nhất khảo sát tổn thương xương vùng chẩm - C1-C2. MRI là xét nghiệm được lựa chọn khi có thiếu sót thần kinh.
Nghiên cứu tạo hình bản sống trong điều trị bệnh tủy do hẹp ống sống cổ. Tác giả: BS Phan Quang Sơn. Bảo vệ tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày 30-12-2003. Tác giả nghiên cứu tiền cứu 32 trường hợp bệnh tủy do hẹp ống sống cổ nhiều tầng được phẫu thuật tạo hình bản sống theo phương pháp Kurokawa. Phương pháp Kurokawa (chẻ đôi gai sau) gồm 5 giai đoạn: bộc lộ gai sau và bản sống, tạo 2 rãnh dọc 2 bên bản sống bằng khoan cao tốc, chẻ đôi gai sau, giải áp tủy sống, và cột rồi ghép xương. So sánh bằng thang điểm JOA (hội chỉnh hình Nhật Bản), trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng. Tác giả khuyên nên phẫu thuật khi có triệu chứng lâm sàng, thang điểm JOA từ 12 trở xuống, hình ảnh học có tiêu chuẩn hẹp ống sống cổ tương đối hoặc hẹp ống sống cổ nhiều tầng. kết quả đạt được tương đương với của nước ngoài. Ưu điểm là giải áp tủy mà không làm mất vững cột sống cổ, ít biến chứng.
Điều trị gãy cột sống lưng - thắt lưng bằng phương pháp nẹp vít cuống cung. Nguyễn Phong. Trường đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1999. Gẫy cột sống là một bệnh lý chấn thương nặng nề, có thể kèm tổn thương thần kinh, gây tàn phế suốt đời hoặc tử vong. Trong đó gãy cột sống đoạn tiếp nối lưng - thắt lưng rất thường gặp do đặc điểm giải phẫu. Phương pháp mổ đường sau, làm cứng bằng nẹp vít cuống cung tạo điều kiện cố định trong chắc chắn, cho phép vận động sớm, tránh các biến chứng do nằm lâu, giảm thời gian nằm viện, trong khi kỹ thuật mổ đơn giản, ít biến chứng, có thể thực hiện được ở tuyến tỉnh. Tác giả đã đưa ra những kết quả dựa vào đo đạc sự thay đổi trước và sau mổ của góc gù, mức độ di lệnh và chiều cao thân sống. Số liệu được lấy từ 129 bệnh nhân của bệnh viện Chợ rẫy. Tác giả nêu rỏ những ưu điểm của phương pháp cố định nẹp vít cuống cung, cũng như những nhược điểm của phương pháp này. Đồng thời, tác giả cũng nêu những cải tiến đã thực hiện và mạnh dạn đề xuất phương hướng phát triển kỹ thuật. Tác giả nêu rõ lại sự cần thiết sản xuất nẹp vít kiểu Steffee, kết hợp với dùng phương pháp chụp cắt lớp vi tính để nghiên cứu hình thái học của cột sống khu vực giải phẫu này, đồng thời với phát triển thêm kỹ thuật mổ theo đường trước.
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: triệu chứng lâm sàng, phân bố và kết quả phẫu thuật. Võ Xuân Sơn. Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1999.Tác giả đã mổ 147 trường hợp và chọn được 96 trường hợp đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Tác giả trình bày tỷ mỷ các số liệu thống kê của mình, đặc biệt bao gồm các mức phân bố của thoát vị và các kết quả phẫu thuật theo các phương pháp khác nhau. Tác giả cho biết không có khác biệt về khả năng hồi phục giữa các nhóm được mổ bằng các kỹ thuật khác nhau, kết quả có được của tác giả tương đương với của các tác giả nước ngoài.