1. Y học từ xa là cung cấp các dịch vụ chǎm sóc sức khỏe giữa những chủ thể bị ngǎn cách về mặt địa lý. Để chẩn đoán cho một bệnh nhân, chúng ta cần thông tin về bệnh sử, thông tin kết quả thǎm khám như : xét nghiệm (xét nghiệm huyết học, sinh hoá, vi sinh, tế bào... ), thông tin về chẩn đoán chức nǎng (Điện tim ECG, điện não EEG, hô hấp...), thông tin về hình ảnh (X-quang, siêu âm, CT, MRI...), thậm chí cả những ngân hàng dữ liệu chứa đựng những tri thức hỗ trợ cho việc ra quyết định. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong y học đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của tin học ứng dụng.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế đã tǎng cao một cách đáng kể hiệu quả phục vụ và giảm thiểu chi phí ở tất cả các bệnh viện, nhờ vào việc lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin một cách có hệ thống, nhanh chóng, chính xác.
Chẩn đoán hình ảnh từ xa (Teleradiology), tư vấn từ xa (Teleconsulting), hội chẩn từ xa (Telediagnostics, video-conferencing)... là những dịch vụ mở rộng trên nền tảng đó cũng xuất hiện: sự phối hợp theo vùng địa lý, sự phối hợp theo cùng chuyên khoa, sự chǎm sóc các bệnh nhân đặc biệt...
2. Y học từ xa là một ứng dụng đang phát triển nhanh chóng của y học lâm sàng. Hiện nay, ở Mỹ, công nghệ thông tin được úng dụng triệt để trong hoạt động y tế. Với mạng y tế thống nhất toàn quốc, có sự tham gia đầy đủ của 7 thành viên : các bệnh viện, phòng mạch tư và phòng khám, labor xét nghiệm, các công ty dược, các công ty cung cấp thiết bị y tế, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo (R&D), các cơ quan bảo hiểm y tế thực hiện được rất nhiều các dịch vụ từ xa. Nǎm 1996 đầu tư cho Công nghệ thông tin y học ở Mỹ là 6,7 tỷ USD .
Bệnh án điện tử (EPR -Electronic Patient Record) là một chủ đề vừa hấp dẫn, vừa phức tạp, vừa hết sức thực tiễn lại vừa phong phú về công nghệ. Trong bệnh án của một bệnh nhân có hầu hết thông tin từ mọi nguồn dữ liệu trong bệnh viện: kết quả xét nghiệm, ảnh chụp X- quang, cộng hưởng từ, các phiếu chẩn đoán chức nǎng, kết quả nội soi, kết quả chẩn đoán chung và liệu trình điều trị bao gồm cả thǎm khám lẫn thuốc men- phẫu thuật... kể cả những thông tin cơ bản để tính tiền viện phí.
3. Chẩn đoán hình ảnh từ xa đã trở thành một thí dụ kinh điển và đầy tính thuyết phục cho y học từ xa. Các hình ảnh cần thiết dùng cho chẩn đoán được truyền theo đường viễn thông về những trung tâm lớn có những chuyên gia giỏi. Tại đây, các chuyên gia sẽ đưa ra chẩn đoán của mình và kết quả được gửi trở lại nơi có bệnh nhân. Toàn bộ quy trình có thể được tiến hành trực tuyến (online) hay không trực tuyến (offline) . Bây giờ, công tác chẩn đoán bằng hình ảnh có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào trong bệnh viện: tại vǎn phòng khoa chẩn đoán hình ảnh, tại phòng hội chẩn- giao ban, tại các khoa điều trị.
4. Những ứng dụng của y học từ xa rất phong phú. Đặc biệt là sự phối hợp giữa các bệnh viện, vai trò hướng dẫn của các chuyên gia đầu ngành ở các trung tâm lớn trong hệ thống chỉ đạo tuyến giúp các bác sĩ tuyến dưới được hỗ trợ nhiều hơn khi ra những quyết định cuối cùng. Teleradiology mới chỉ là điểm mở đầu, với Internet và người máy còn có thể thực hiện phẫu thuật qua mạng.
Với từng người bệnh, có thể sử dụng mạng y học từ xa để xin ý kiến tư vấn của các bác sĩ hay các chuyên gia đầu ngành. Các bệnh nhân cần theo dõi đặc biệt có thể dùng một máy tính xách tay (Laptop) để đảm bảo mối liên hệ thường xuyên với bệnh viện.
Cơ cấu dịch vụ y tế chỉ là các bệnh viện hay các phòng khám riêng biệt, mà là một mạng liên kết theo kiểu liên kết toàn diện, liên kết theo chuyên ngành hay liên kết theo khu vực, có thể chống hiện tượng quá tải và tạo thuận lợi tối đa cho người bệnh ở mọi khu vực.
Trên thực tế, y học từ xa đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong công tác chăm sóc sức khoẻ, cũng như Internet đã thực sự làm thay đổi thế giới.